Tìm kiếm
 
 
 
 
 
Chuyên mục Hỏi - Đáp
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
     
Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Gửi vào lúc: 22/06/2017 04:31 PM

Ông Trần Văn Thường hỏi: Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như thế nào?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, thì Trình tự, thủ tục xác định lại diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận thực hiện như sau:

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị xác định lại diện tích đất ở tại nơi nộp hồ sơ quy định tại Điều 60 của Nghị định này.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận trước đây, nếu đủ điều kiện xác định lại diện tích đất ở theo quy định thì trình cơ quan có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cập nhật, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ s dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.”

Có nhất thiết phải tiêm vắc xin '6 trong 1' cho trẻ?
Có nhất thiết phải tiêm vắc xin '6 trong 1' cho trẻ? Gửi vào lúc: 22/06/2017 03:59 PM

Con của bà Nguyễn Thu Hương (nguyenthuhuong184@...) 31 tháng tuổi, đã tiêm 3 mũi vắc xin '6 trong 1' từ khi con 1 tuổi cho đến nay. Bà Hương hỏi, con bà có thể tiêm tiếp vắc xin '5 trong 1' được không? Tác dụng phòng bệnh của thuốc có cao hơn không?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Hiện nay vắc xin 5 trong 1 (Quinvaxem) được chỉ định tiêm 3 mũi cho trẻ 2, 3, 4 tháng tuổi và được tiêm nhắc lại vắc xin DPT khi trẻ 18 tháng tuổi theo quy định tại Thông tư số 26/2011/TT-BYT ngày 24/6/2011 của Bộ Y tế ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế. Đây là các vắc xin được đảm bảo an toàn và được tiêm miễn phí trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại các Trạm Y tế xã, phường trên cả nước. Trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch để bảo đảm hiệu quả phòng bệnh tốt nhất.

Trong độ tuổi tiêm chủng, trẻ vẫn có thể sử dụng vắc xin '6 trong 1' và vắc xin '5 trong 1' để phòng bệnh. Tuy nhiên, trước khi tiêm chủng trẻ cần phải được khám sàng lọc để đảm bảo đủ điều kiện tiêm chủng.

Thuế phải nộp khi xây dựng nhà ở tư nhân?
Thuế phải nộp khi xây dựng nhà ở tư nhân? Gửi vào lúc: 20/06/2017 01:49 PM

Ông Trần Văn Tuấn đang làm thủ tục cấp phép xây dựng căn nhà 3 tầng, diện tích 76,5m2. Ông có thuê 1 công ty thiết kế căn nhà và ông tự tổ chức xây dựng nhà ở của gia đình. Vậy ông có phải nộp thuế GTGT và thuế TNDN đối với việc thi công xây dựng nhà ở của mình không?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Theo quy định của Luật Thuế GTGT và Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành thì: "Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT; người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế TNDN".

Như vậy, trường hợp cá nhân tự tổ chức xây dựng nhà ở của gia đình (không thuê các tổ chức, cá nhân khác xây dựng) thì không thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế GTGT hoặc thuế TNDN đối với hoạt động xây dựng nhà ở của mình.

Khai sai thuế, tự phát hiện có bị xử phạt?
Khai sai thuế, tự phát hiện có bị xử phạt? Gửi vào lúc: 20/06/2017 07:27 AM

Ông Trần Quang là hộ kinh doanh cá thể, chuyên kinh doanh gara ô tô, áp dụng thuế khoán ổn định và thuế theo hóa đơn xuất bán trong quý từ quý 1/2016. Đến nay, ông Quang phát hiện hộ kinh doanh của ông áp dụng thuế suất thuế GTGT và TNCN thấp hơn so với quy định. Ông Quang hỏi, trong trường hợp này hộ kinh doanh của ông có bị truy thu thuế GTGT và TNCN đối với hóa đơn đã sử dụng từ năm 2016 không và ngoài việc truy thu thì có bị phạt không? Căn cứ để truy thu và phạt với hộ cá thể có sử dụng hóa đơn quy định tại văn bản nào, truy thu trong vòng bao nhiêu năm?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Tại Điểm 1, 2 Điều 30 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định về khai thuế, tính thuế như sau:

“Điều 30. Nguyên tắc khai thuế và tính thuế

1. Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đầy đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ kê khai thuế với cơ quan quản lý thuế.

2. Người nộp thuế tự tính số phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ”.

Tại Điểm 1 Điều 34 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định về việc bổ sung hồ sơ khai thuế như sau:

“Điều 34. Khai bổ sung hồ sơ khai thuế

1. Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế”.

Khoản 3, Điều 6 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn, trường hợp cá nhân nộp thuế khoán sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với doanh thu trên hóa đơn chậm nhất là ngày thứ 30 của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế.

Theo quy định tại Điều 26 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính về thời hạn nộp thuế thì:

“1. Người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách Nhà nước.

2. Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp người nộp thuế tính thuế hoặc thời hạn nộp thuế ghi trên thông báo, quyết định, văn bản của cơ quan thuế hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác”.

Xác định các hành vi vi phạm của người nộp thuế

Điều 103 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế gồm vi phạm các thủ tục thuế, chậm nộp tiền thuế, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế.

Khoản 32, Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế quy định:

“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế

32. Điều 106 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 106. Xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế…

2. Người nộp thuế khai sai dẫn đến làm thiếu số tiền phải nộp nếu tự giác khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện thì phải nộp tiền chậm nộp, nhưng không bị xử phạt vi phạm thủ tục hành chính thuế, thiếu thuế, trốn thuế…

3. Người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp, số ngày chậm nộp và mức tiền chậm nộp theo quy định tại Khoản 1 điều này.

Trường hợp người nộp thuế không tự xác định hoặc xác định không đúng số tiền chậm nộp thì cơ quan quản lý thuế xác định số tiền chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế biết.

4. Trường hợp sau 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, người nộp thuế chưa nộp tiền thuế và tiền chậm nộp thì cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế biết số tiền thuế nợ và tiền chậm nộp…”.

Tại Khoản 3, Điều 3 Luật số 106/2016/QH13 ngày 6/4/2016 Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định, “người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 1/7/2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách Nhà nước, kể cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thì được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo quy định tại khoản này từ ngày 1/7/2016”.

Các trường hợp không bị xử phạt hành chính

Tại Khoản 2, Điều 5 Thông tư số 166/2013/TT-BTC quy định những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế là những trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp, trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.

Khoản 33, Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 quy định, “người nộp thuế đã phản ánh đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ nhưng khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn thì phải nộp đủ số tiền thuế đã khai thiếu, nộp lại số tiền thuế được hoàn cao hơn và bị xử phạt 20% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được hoàn cao hơn và tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế được hoàn cao hơn”.

Theo Khoản 35, Điều 1 Luật số 21/2012/QH13: “Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế

35. Điều 110 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

1. Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là 5 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách Nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm”.

Căn cứ vào các quy định hướng dẫn nêu trên, nếu ông Trần Quang tự phát hiện khai sai, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp và tự khai bổ sung hồ sơ khai thuế, nộp đủ số tiền thuế còn thiếu và nộp tiền chậm nộp theo quy định trước thời điểm cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện thì ông Trần Quang không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Bên cạnh đó, nếu ông Trần Quang không tự phát hiện khai sai, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, mà do cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy thu số tiền thuế còn thiếu, tiền chậm nộp và xử phạt 20% số tiền thuế khai thiếu theo quy định.

Nhà ở xã hội chỉ được sở hữu 50 năm?
Nhà ở xã hội chỉ được sở hữu 50 năm? Gửi vào lúc: 16/06/2017 03:06 PM

Hiện tại, tôi đang muốn mua nhà ở xã hội. tôi nghe nói, nhà ở xã hội chỉ được sở hữu 50 năm. Xin hỏi, thông tin này có đúng không? Nếu đúng, sau 50 năm nhà tôi mua sẽ được xử lý như thế nào?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. Nhà ở xã hội khác với các loại nhà ở riêng lẻ khác ở điều kiện chủ thể được thuê, thuê mua, mua nhà ở xã hội là những đối tượng đặc biệt được luật định và phải đáp ứng các điều kiện khác như chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, phải có đăng kỹ thường trú tại tỉnh, thành phồ trực thuộc Trung ương...

 Theo Nghị định số 34/2013/NĐ-CP, 08 đối tượng thuê, thuê mua nhà ở xã hội thuộc sở hữu nhà nước bao gồm:

- Người có công với cách mạng quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

- Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước;

- Công nhân làm việc tại khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngoài khu công nghiệp;

- Người thu nhập thấp, hộ nghèo có khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị;

- Người khuyết tật, người già cô đơn và các đối tượng đặc biệt có khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị. Trường hợp là người khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, không có thu nhập thì được bố trí ở tại các trung tâm bảo trợ xã hội của Nhà nước;

- Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ khi hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ;

- Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư mà chưa được bố trí đất ở hoặc nhà ở tái định cư.

Hình thức sở hữu nhà ở xã hội cũng như sở hữu nhà ở riêng lẻ nhưng chỉ áp dụng với những đối tượng đặc biệt. Còn về thời gian sở hữu, hiện tại không có quy định về việc hạn chế thời hạn sở hữu khi chủ thể mua nhà ở xã hội như bạn thông tin.

<<  <  1  2  3  4  5  ...  >  >>  
 
Gửi câu hỏi
Skip portletPortlet Menu
 
Họ và tên *:
Email *:
Điện thoại:
Địa chỉ :
Chuyên mục * :
Nội dung câu hỏi *: