Giới thiệu về Thái Nguyên
Skip portletPortlet Menu
 
 
Địa chí Thái Nguyên
Skip portletPortlet Menu
 
 
Cẩm nang du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
 
Giới thiệu các khu du lịch
Skip portletPortlet Menu
 
 
Hỗ trợ quảng bá DN
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
Thống kê truy cập
Skip portletPortlet Menu

Tổng số lượt truy cập: 24776030

Số người đang trực tuyến: 444

 
 
 
 
 
Các huyện, thành thị
   
Huyện Võ Nhai (30/01/2010 02:54 PM)
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có giới hạn địa lí 105017 - 106017 đông, 21036 - 212056 vĩ bắc; phía đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn); phía tây giáp huyện Đồng Hỉ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên); phía nam giáp huyện Đồng Hỉ ( tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang); phía bắc giáp huyện Na Rì (tỉnh Bắc Cạn).

ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, có giới hạn địa lí 105017 - 106017  đông, 21036 - 212056 vĩ bắc; phía đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn); phía tây giáp huyện Đồng Hỉ và huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên); phía nam giáp huyện Đồng Hỉ ( tỉnh Thái Nguyên) và huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang); phía bắc giáp huyện Na Rì (tỉnh Bắc Cạn). Diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1 km2; trong đó, đất lâm nghiệp chiếm trên 561,27km, đất nông nghiệp 77,24km2, đất nuôi trồng thủy sản1,55km, đất phi nông nghiệp 22,13km2 và đất chưa sử dụng 182,92km2. Trong lòng đất có nhiều loại khoáng sản quý: chì, kẽm, vàng ở Thần Sa; phốt pho ở La Hiên có trữ lượng khá (60.000 tấn). Ngoài ra, Võ Nhai còn có các loại khoáng sản vật liệu xây dựng: đá xây dựng, đá sét, cát sỏi, đặc biệt là sét xi măng ở Cúc Đường có trữ lượng lớn, chất lượng tốt.

Địa hình Võ Nhai khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi, hình thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng núi cao, gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây, con phong phú, tạo nên cảnh đẹp tự nhiên. Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ 500 đến 600 mét, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn). - Vùng thấp, gồm 3 xã La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả, có địa hình tưương đối bằng phẳng, được tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo Quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn.

- Vùng gò đồi, gồm 5 xã : Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao, có nhiều đồi đất hình bát úp, bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và xen lẫn núi đá vôi.

Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ,  nhưng có phần khắc nghiệt hơn. Trước đây, Võ Nhai nổi tiếng là nơi rừng thiêng nước độc. Sách Đồng Khánh địa dchí, viết: ”Trong huyện rừng núi liên tiếp, khí núi nặng nề. Khí trời nhiều lạnh rét. Khí đất ẩm thấp. Cuối xuân trời vẫn còn lạnh, mùa hè thì chỉ hơi nóng, đầu thu đã bắt đầu lạnh, đến mùa đông thì rét đậm. Hằng ngày khoảng trước giờ Tỵ, sau giờ Thân thì không nhìn thấy núi”.

Võ Nhai nằm trong vùng lạnh của tỉnh Thái Nguyên. Nhiệt độ trung bình hằng năm 22,9oC. Từ Thượng tuần tháng 5 đến hạ tuần tháng 9 là những tháng có nhiệt độ cao, nóng nhất là tháng 6, tháng 7, khoảng 27,9o C. Nhiệt độ cao tuyệt đối khoảng 3905 C (tháng 6), thấp tuyệt đối là 30C (tháng 1). Vào mùa lạnh (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), tiết trời giá rét, nhiều khi có sương muối, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và sự phát triển cây trồng, vật nuôi. Biên độ ngày và đêm trung bình là 70C, lớn nhất vào tháng 10, khoảng 802 C. Chế độ nhiệt này tạo cho Võ Nhai có thế mạnh trong việc phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả.

Chịu ảnh hưởng chế độ mưa vùng núi Bắc Bộ, mùa ma ở Võ Nhai thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hằng năm  1.941,5 mm và phân bổ không đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa ma, khoảng 1.765 mm (chiếm 91% tổng lượng mưa cả năm). Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2 mm.

Nguồn nước trên địa bàn huyện Võ Nhai khá phong phú, nhưng phân bố không đều. Ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối, còn có các mạch nước ngầm từ các hang động trong núi đá vôi.

Võ Nhai có hai con sông nhánh thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thưương, được phân bố ở phía bắc và phía nam huyện.

Sông Nghinh Tường có chiều dài 46 km, bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu. Khoảng 40% chiều dài dòng chảy là vùng đá vôi, thung lũng thường hẹp và sâu, vách đá dựng đứng.

Sông Rong: bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long, sang địa phận tỉnh Bắc Giang và đổ về sông Thưương.

Võ Nhai có 11 hồ chứa nước, 50 phai, đập kiên cố, 12 trạm bơm, 132 kênh mưương do Nhà nước hỗ trợ và nhân dân đóng góp xây dựng.

 

ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH

Huyện Võ Nhai, thời thuộc nhà Đường là huyện Vũ Lễ, Thời Lí - Trần (thế kỉ X - XIV), gọi là châu Vạn Nhai. Thời thuộc Minh (1407 - 1427), đổi thành châu Vũ Lễ. Đầu thời nhà Lê, châu Vũ Lễ đổi thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình, do phiên thần họ Ma nối đời cai quản. Đầu đời Nguyễn Gia Long (từ năm 1802) vẫn theo nhthế. Đến năm Minh Mạng thứ 16 (1836), huyện Võ Nhai gồm 8 tổng và 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu quan. Đời Đồng Khánh (1886 - 1888), huyện Võ Nhai có 8 tổng, gồm 28 xã, trại:

1- Tổng Lâu Thượng, gồm 3 xã: Xuất Tác, Phù Trì, Lâu Thượng.

2- Tổng Lâu Hạ, gồm 2 xã: Lâu Hạ, Hương Thắng.

3- Tổng Tràng Xá, gồm 3 xã: Quan Lũng, Tràng Xá, Khắc Kiệm.

4- Tổng Bắc Sơn, gồm 4 xã: Bắc Sơn, Chiêu Vũ, Hng Vũ, Trấn Yên.

     5- Tổng Nhất Thể, gồm 5 xã, trại: Vũ Lăng, Nhất Thể, Gia Hoà, Vũ Lễ và trại Nam Nhi.

6- Tổng Quỳnh Sơn, gồm 4 xã: Quỳnh Sơn, Hữu Vĩnh, Long Giản, Ngự Viễn.

7- Tổng Tân Tri, gồm 5 xã: Tân Tri, Sảng Mộc, Nghênh Tường, Phú Cốc, Vũ Chấn.

8- Tổng Vĩnh Yên, gồm 2 xã: Vũ Yên, Vũ Địch.

Huyện lị thời trước đặt ở xã Lâu Thượng, đến đời Đồng Khánh chuyển vào xã Chàng (Tràng) Xá.

Năm 1894, thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thể, Quỳnh Sơn, Tân Lu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn; huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai, gồm 6 tổng: Lâu Thượng, Tràng Xá, Phương Giao, Cúc Đình, Thượng Nùng, Vân Lăng với 22 xã, 1 phố, 5 trại. Từ đó cho đến sau Cách mạng Tháng Tám vẫn giữ nguyên nhthế.

Ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà kí Sắc lệnh số 148-SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận. Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai, gồm 17 xã: Nghinh Tường, Văn Lăng, Vũ Chấn, Hoà Bình, Xuân Quang, Phương Giao, La Hiên, Phú Thượng, Dân Tiến, Thần Sa, Thượng Nung, Lịch Sơn, Cường Thịnh - Tràng Xá, Bình Long, Cúc Đường và Lâu Thượng.

Ngày 22/12/1949, theo Nghị định số 224-TTG của Thủ tướng Chính phủ, thôn Sảng Mộc (xã Yên Hân, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Cạn) được sáp nhập vào xã Nghinh Tường, huyện Võ Nhai.

Ngày 1/6/1985, theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, 4 xã: Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và Văn Lăng của huyện Võ Nhai được cắt về huyện Đồng Hỉ.

Ngày 25/10/1990, theo Quyết định số 454/TCCP của Ban Tổ chức Chính phủ, thị trấn Đình Cả được thành lập.

Ngày nay, huyện Võ Nhai gồm 14 xã, 1 thị trấn, với tổng số 170 xóm và 2 tổ dân phố:

1- Thị trấn Đình Cả gồm 5 xóm, 2 tổ dân phố: Cổ Rồng, Làng Lường, Bãi Lai, Tiền Phong, Hùng Sơn, Thái Long, Đình Cả.

2- Xã Nghinh Tường gồm 12 xóm: Na Hấu, Bản Nhàu, Thâm Thạo, Bản Trang, Bản Na, Bản Rãi, Nà Giàm, Nà Lẹng, Bản Cái, Thượng Lương, Hạ Lương.

3- Xã Sảng Mộc gồm 10 xóm: Bản Chương, Nà Ca, Phú Cốc, Khuổi Mèo, Bản Chấu, Nà Lay, Khuổi Chạo, Tân Lập, Khuổi Uốn, Nghinh Tác.

4- Xã Vũ Chấn gồm 10 xóm: Na Mấy, Đồng Đình, Na Rang, Khe Rạc, Cao Sơn, Na Đồng, Khe Rịa, Na Cà, Khe Cái, Khèn Nọi.

5- Xã Thượng Nung gồm 7 xóm: Tân Thành, Trung Thành, Lục Thành, An Thành, Lũng Hoài, Lũng Cà, Lũng Luông. 6- Xã Thần Sa gồm 9 xóm: Trung Sơn, Kim Sơn, Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao, Xuyên Sơn, Ngọc Sơn 1, Ngọc Sơn 2, Tân Kim, Thượng Kim.

7- Xã Cúc Đường gồm 5 xóm: Tân Sơn, Trường Sơn, Lam Sơn, Bình Sơn, Mỏ Trì.

8- Xã Phú Thượng gồm 11 xóm: Mỏ Gà, Phợng Hoàng, Đồng Mó, Nà Pheo, Na Phài, Nà Kháo, Suối Cạn, Cao Lầm, Làng Phật, Ba Nhất, Cao Biền.

9- Xã Lâu Thượng gồm 11 xóm: Đồng Chăn, Làng Chiềng, Làng Áng, Là Dương, Cây Hồng, La Mạ, La Hoá, Yên Ngựa, Làng Hang, Đất Đỏ, Trúc Mai.

10- Xã La Hiên gồm 15 xóm: Trúc Mai, Làng Lai, Hiên Bình, Xóm Phố, Cây Bòng, Cây Thị, Làng Giai, La Đồng, Xuân Hoà, Đồng Đình, Hiên Minh, Hang Hon, Làng Kèn, Khuôn Vạc, Đồng Dong.

11- Xã Tràng Xá gồm 20 xóm: Chòi Hồng, Là Bo, Mỏ Bễn, Là Lu, Mỏ Đinh, Là Đông, Tân Đào, Khuôn Ruộng, Tân Thành, Thành Tiến, Đồng Ẻn, Đồng Ruộng, Làng Đèn, Đồng Bài, Đồng Tác, Đồng Mỏ, Lò Gạch, Đồng Danh, Làng Chàng.

12- Xã Liên Minh gồm 9 xóm: Nhâu, Vang, Thâm, Nho, Khuân Đã, Nác, Kẹ, Khuân Nang, Ngọc Mỹ.

13- Xã Phương Giao gồm 14 xóm: Làng Bản, Là Mè, Làng Giữa,Làng Mìn, Làng Cao, Làng Kẽn, Đồng Giong, Là Canh, Là Khoan, Xuất Tác, Phương Đông, Làng Cũ, Làng Hang, Na Bả.

14- Xã Dân Tiến gồm 12 xóm: Đồng Rã, Tân Tiến, Bắc Phong, Đồng Chuối, Đoàn Kết, Ba Phiêng, Đồng Vòi, Làng Chẽ, Đồng Quán, Phương Bá, Thịnh Khánh, Làng Mời.

15- Xã Bình Long gồm 20 xóm: Chợ, Cây Trôi, Phố, Ót Giải, Bậu, Trại Rẽo, An Long, Đại Long, Đông Tiến, Long Thành, Chùa, Bồng Bứa, Chịp, Vẽn, Nà Sọc, Chiến Thắng, Quảng Phúc, Đồng Bản, Đèo Ngà, Bình An.

 


Xem nội dung chi tiết trong file đính kèm



Nguồn:
Tác giả:

Mã bảo vệ * :
Email Bản in
()
()
()
()
()
()
()
()
 
 
 
 
 
 
Bản đồ tỉnh Thái Nguyên
Skip portletPortlet Menu
 
 
E-Mail (@thainguyen.gov.vn)
Skip portletPortlet Menu
 
 
Đăng nhập  
Danh bạ Email nội bộ
 
 
 
 
Sự kiện văn hóa
Skip portletPortlet Menu
Khai trương Làng văn hóa các dân tộc lớn nhất Việt Nam
Khai trương Làng văn hóa các dân tộc lớn nhất Việt Nam
Khai mạc Đại lễ không biểu diễn diều bay có động cơ
Thái Nguyên cùng cả nước tưng bừng đón chào ngày Quốc khánh 2.9
Thái Nguyên: Giao lưu với các điển hình thi đua yêu nước thời kỳ đổi mới.
 
 
Thông tin cần biết
Skip portletPortlet Menu
 
 
Thăm dò dư luận
Skip portletPortlet Menu
This portlet is temporarily disabled.