Tìm kiếm
 
 
 
 
 
Chuyên mục Hỏi - Đáp
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
     
Đối tượng được điều chỉnh tăng 8% lương hưu
Gửi vào lúc: 15/04/2015 02:31 PM

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Đối tượng cán bộ y tế được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề
Đối tượng cán bộ y tế được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề Gửi vào lúc: 22/02/2012 09:29 AM

Một số bạn đọc đề nghị cho biết: Những đối tượng công chức, viên chức y tế nào được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề theo quy định tại Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Theo Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BYT-BNV-BTC ngày 19/1/2012 của Liên Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, có 3 nhóm công chức, viên chức đã được xếp lương theo Nghị định số204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ, thuộc biên chế trả lương (kể cả lao động hợp đồng) trong các cơ sở y tế công lập là đối tượng áp dụng chế độ ưu đãi này.

Công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp làm chuyên môn y tế (xếp lương theo các ngạch viên chức có 2 chữ số đầu của mã số ngạch là 16 hoặc 13) để thực hiện các công việc sau:

- Khám, điều trị, chăm sóc, phục vụ người bệnh và phục hồi chức năng;

- Xét nghiệm phục vụ cho công tác chuyên môn y tế;

- Chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, y học hạt nhân, xạ trị;

- Giải phẫu bệnh lý;

- Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, kiểm dịch y tế biên giới;

- Phòng chống dịch bệnh, bệnh xã hội, y học lao động và vệ sinh môi trường y tế;

- Kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn sinh học; hộ lý, y công;

- Kiểm nghiệm, kiểm định, giám định;

- Pha chế, bào chế, bảo quản, cấp phát thuốc, vắc xin, hoá chất, môi trường nuôi cấy tại các cơ sở y tế;

- Nghiên cứu y dược học; chỉ đạo tuyến chuyên môn kỹ thuật y tế;

- Chuyên môn an toàn vệ sinh thực phẩm, dinh dưỡng tiết chế;

- Chuyên môn dân số - kế hoạch hóa gia đình;

- Bảo quản, vệ sinh, trông coi xác và nhà xác;

Công chức, viên chức trực tiếp làm chuyên môn y tế (xếp lương không có 2 chữ số đầu của mã ngạch 16 hoặc 13), đang đảm nhận các công việc sau:

- Vận hành, bảo dưỡng trang thiết bị y tế;

- Nuôi, trồng động vật, thực vật, côn trùng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu y dược học;

- Làm chuyên môn y tế để thực hiện các công việc truyền thông giáo dục sức khoẻ.

Công chức, viên chức làm công tác quản lý, phục vụ không trực tiếp làm chuyên môn y tế tại các cơ sở, viện, bệnh viện, trung tâm thuộc các chuyên khoa sau: HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần, giải phẫu bệnh lý và pháp y.

Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng đặc biệt khó khăn
Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng đặc biệt khó khăn Gửi vào lúc: 24/10/2011 04:04 PM

Ông Mai Xuân Vân (nguyenthixuanha80@...) hỏi: Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ thì thời gian công tác được tính như thế nào? Ông Vân muốn biết, nếu ông công tác tại xã A từ năm 1996 đến nay, nhưng năm 2007 xã A mới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì ông được hưởng mức phụ cấp như thế nào?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Phụ cấp công tác lâu năm

Tại Điều 5 Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, kể cả người tập sự, thử việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến xã, phường, thị trấn; Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chuyên môn kỹ thuật và người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, kể cả người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong quân đội nhân dân và công an nhân dân là đối tượng được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn:

- Mức 0,5 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm;

- Mức 0,7 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm;

- Mức 1,0 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên.

Căn cứ tính hưởng trợ cấp là thời gian thực tế làm việc ở vùng đặc biệt khó khăn

Tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC hướng dẫn về phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP như sau:

Đối tượng và mức phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP.

Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn), bao gồm: Thời gian làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; Thời gian làm việc trong quân đội nhân dân và công an nhân dân.

Mức tiền phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tính theo công thức sau:

Mức tiền phụ cấp công tác lâu năm = Mức lương tối thiểu chung x Mức phụ cấp được hưởng theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trường hợp ông Mai Xuân Vân có thời gian làm việc (có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc) từ năm 1996 đến nay: Giai đoạn trước năm 2007, xã A chưa được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó thời gian công tác của ông Vân tại xã A từ năm 1996 đến năm 2007 không được tính là thời gian công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Từ  năm 2007 xã A  được phê duyệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vì vậy thời gian công tác tại xã A của ông Vân từ năm 2007 đến nay là thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nếu ông Vân tiếp tục làm việc liên tục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì đến năm 2012 (khi đủ 5 năm) ông Vân sẽ được hưởng phụ cấp công tác lâu năm mức 0,5 so với mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đó.

(Theo http://chinhphu.vn)

Chế độ trợ cấp với quân nhân tham gia kháng chiến
Chế độ trợ cấp với quân nhân tham gia kháng chiến Gửi vào lúc: 18/10/2011 03:34 PM

Ông Lưu Văn Đức (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp về chế độ trợ cấp đối với ông Lưu Văn Phú, bố đẻ ông Đức, có 9 năm 8 tháng tham gia trong Quân đội, được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến, nhưng chưa được hưởng chế độ. Ông Phú sinh năm 1945, nhập ngũ tháng 4/1966 tại Sư đoàn 320, tỉnh Hải Dương, sau đó hành quân theo đường Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên và đóng quân tại C2 – Tổng trại đoàn 75. Tháng 12/1975 ông Phú xuất ngũ về địa phương. Ông Đức hỏi: Theo các quy định hiện hành thì bố đẻ ông có được hưởng chế độ gì không?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị ngày 27/10/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương.

Theo Quyết định nêu trên, đối chiếu với quá trình công tác trong quân đội của ông Lưu Văn Phú, nếu ông Phú không thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng thì ông Phú thuộc đối tượng được xem xét, giải quyết chế độ trợ cấp một lần theo số năm thực tế công tác trong quân đội (từ tháng 4/1966 đến tháng 12/1975).

Cục Chính sách đề nghị ông Phú trực tiếp liên hệ với UBND phường 6, quận 3, TP Hồ Chí Minh để được hướng dẫn cụ thể.


Trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất
Trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất Gửi vào lúc: 14/10/2011 07:27 AM

Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 không có tranh chấp thì không phân biệt người xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là người đã sử dụng đất trước hay sau ngày 15/10/1993 khi được cấp GCNQSDĐ đều không phải nộp tiền sử dụng đất. Ngày 2/6/1995, bà Hoàng Thị Chính (TP. Hải Phòng) mua lô đất 46,5m2 của ông Trịnh Minh Ngọc, được UBND phường xác nhận và Sở Địa chính - Nhà đất cấp Giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Nay bà Chính muốn đổi sang GCNQSDĐ và được UBND phường cho biết, vì bà mua đất sau thời điểm 15/10/1993 nên phải nộp 50% tiền sử dụng đất. Bà Chính thắc mắc, trường hợp của bà có phải nộp tiền sử dụng đất không? Nếu có thì nộp ở mức nào?

THAINGUYEN.GOV.VN trả lời:

Theo Khoản 4, Điều 3, Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định đối tượng không phải nộp tiền sử dụng đất là:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, khi được cấp GCNQSDĐ trong các trường hợp: Đất đã sử dụng ổn định, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai 2003.

- Hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất ở trước ngày 15/10/1993 theo quy định của pháp luật về đất đai.

Đồng thời, theo Điểm 2, Mục III Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể đối tượng không phải nộp tiền sử dụng đất quy định tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi được cấp GCNQSDĐ không phải nộp tiền sử dụng đất trong một số trường hợp cụ thể như sau:

- Đất đang sử dụng ổn định được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; trong trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 không có tranh chấp thì không phân biệt người xin cấp GCNQSDĐ là người đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 hoặc là người sử dụng đất sau ngày 15/10/1993 (do nhận chuyển nhượng, thừa kế, hiến, tặng...) khi được cấp GCNQSDĐ đều không phải nộp tiền sử dụng đất.

- Trường hợp mua thanh lý, hoá giá nhà ở (mua nhà ở) gắn liền với đất ở của các doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã trước ngày 15/10/1993 quy định tại tiết đ khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm mua nhà gắn liền với đất.

Trường hợp bà Hoàng Thị Chính hỏi, lô đất 46,5m2 bà nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Minh Ngọc từ ngày 2/6/1995, đã được UBND phường xác nhận chuyển nhượng, được Sở Địa chính - Nhà đất cấp Giấy chứng nhận tạm thời quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Diện tích đất này đã được ông Ngọc sử dụng ổn định từ trước 15/10/1993, sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Ngọc, bà Chính sử dụng ổn định, được UBND phường xác nhận là không có tranh chấp.

Nếu những thông tin bà Chính cung cấp là chính xác, nay bà có yêu cầu  cấp đổi GCNQSDĐ thì theo quy định tại Điểm 2.a, Mục III Thông tư 117/2004/TT-BTC nêu trên thì bà không phải nộp tiền sử dụng đất.

<<  <  1  2  3  4  5  ...  >  >>  
 
Gửi câu hỏi
Skip portletPortlet Menu
 
Họ và tên *:
Email *:
Điện thoại:
Địa chỉ :
Chuyên mục * :
Nội dung câu hỏi *: